Nuôi gà thả dưới tán vườn cây mang lại lợi đôi đường khi gà ăn sâu, cỏ, quả rụng, và để lại phân rải đều cho cây. Nhưng nếu thả quá đông hay thả liên tục một chỗ, gà bới trơ đất, làm lộ và tổn thương rễ nông, đất nén chặt, mầm bệnh tích luỹ. Mật độ vừa phải và luân phiên khu thả là hai điều quyết định.
Nhiều vườn bưởi, cam, nhãn ở trung du đã thả gà từ lâu. Chỗ khác giữa vườn khoẻ và vườn xơ xác thường không ở giống gà, mà ở cách chia đất và thời gian cho đất nghỉ.
Gà làm được gì cho vườn?
Gà là những con vật bới và mổ không nghỉ. Dưới tán vườn, chúng ăn cỏ non, hạt cỏ, sâu non, nhộng trong lớp lá mục, và cả quả rụng mang sâu. Một số sâu hại hoá nhộng trong đất dưới gốc cây, gà bới lên ăn là cắt được một phần vòng đời của chúng.
Phân gà giàu đạm và lân. Khi gà đi lại khắp vườn, phân được rải mỏng chứ không dồn thành đống như trong chuồng, nên ít gây nóng rễ. Lượng phân mà gà để lại có thể giảm nhu cầu mua phân cho vườn, nhưng không nên tin là đủ thay thế hoàn toàn nếu chưa theo dõi lá cây.
Về phía gà, tán cây che nắng mưa và giấu gà khỏi chim săn mồi. Gà được vận động, ăn thêm thức ăn tự nhiên, thịt chắc hơn gà nuôi nhốt. Nhiều người mua cũng thích gà thả vườn vì hình ảnh đó.
Nhưng những lợi ích này đều phụ thuộc vào mật độ. Mười con gà trong một vườn rộng là người giúp việc, một trăm con trong cùng vườn ấy có thể là trận càn.
Chia ô và luân phiên khu thả
Chia vườn thành nhiều ô. Dùng lưới rào di động hoặc hàng rào cố định chia vườn thành ba bốn ô trở lên.
Thả mỗi ô một thời gian ngắn. Chuyển gà sang ô mới khi thấy đất bắt đầu trơ cỏ, không đợi tới khi trụi hẳn.
Cho ô vừa thả nghỉ. Cỏ mọc lại, phân phân huỷ, mầm bệnh và trứng giun giảm dần khi không có gà.
Chuồng ngủ di động hoặc ở giữa. Chuồng ở trung tâm, các ô toả ra như cánh hoa, dễ chuyển gà.
Luân phiên theo mùa vụ cây. Thả mạnh sau thu hoạch để gà dọn quả rụng; tránh ô cây đang ra hoa non nếu gà hay mổ.
Để ý vùng gốc cây non. Cây mới trồng cần rào gốc, gà bới lộ rễ rất nhanh.
Không thả trên đất ướt. Mùa mưa gà dẫm làm đất lầy, nén chặt; giảm mật độ hoặc nhốt tạm.
Bổ sung thức ăn. Thức ăn tự nhiên không đủ; cho ăn thêm tại chuồng buổi chiều để gà về tự giác.
Nước uống sạch nhiều điểm. Máng nước bẩn là nơi lây bệnh; đặt nơi bóng mát, thay thường xuyên.
Ghi lịch thả. Ghi ô nào thả khi nào để luân phiên đều.
Quan sát đất và cỏ. Chính mặt đất cho biết mật độ đang vừa hay quá.
Không cần hoàn hảo. Dù chỉ chia được hai ô cũng tốt hơn thả một chỗ quanh năm.
Cây nào hợp, cây nào khó?
Cây ăn trái tán cao, rễ ăn sâu như bưởi, nhãn, vải, xoài, mít hợp với gà thả. Thân cây lớn gà không phá được, quả ở cao gà không với tới. Cây có quả rụng nhiều còn là nguồn thức ăn và cách dọn vệ sinh vườn.
Cây rễ nông, cây thấp, rau màu thì khó. Gà bới cả rễ lẫn cây con. Chuối có rễ nông, nhưng thân to, nhiều vườn vẫn thả gà dưới chuối nếu mật độ thấp. Dâu tây, rau, cây giống thì phải rào kín.
Cây đang có quả thấp như ổi lùn, cà chua, ớt sẽ bị gà mổ. Cây có lá độc với gia cầm cũng cần lưu ý, hỏi thú y nếu trong vườn có loài lạ.
Vườn sầu riêng, cà phê có thể thả gà nhưng thận trọng với vùng rễ tơ dưới tán. Lớp phủ dày dưới gốc cũng dễ bị gà bới tung, mất tác dụng giữ ẩm.
Rủi ro cần tính trước
Thuốc trừ sâu. Không thả gà trong ô vừa phun thuốc; tuân thủ thời gian cách ly ghi trên nhãn thuốc, và hỏi thú y nếu không chắc.
Phân bón hoá học rải gốc. Gà có thể ăn nhầm hạt phân; rải phân khi gà ở ô khác và tưới cho tan.
Dịch bệnh gia cầm. Gà thả tiếp xúc chim hoang, rủi ro cúm cao hơn; tiêm phòng đầy đủ theo hướng dẫn thú y.
Giun sán. Thả liên tục một chỗ làm trứng giun tích luỹ; luân phiên và hỏi thú y về tẩy giun.
Chó, mèo, chồn, rắn. Chuồng ngủ phải chắc, đóng kín ban đêm.
Diều hâu với gà con. Gà con nên nuôi nhốt đến khi đủ lớn mới thả.
Gà bay qua rào. Một số giống gà ta bay giỏi, rào thấp không giữ được.
Hàng xóm có vườn rau. Gà sang vườn hàng xóm là chuyện dễ gây xích mích.
Vệ sinh quả. Quả rụng dính phân gà không nên đem bán hay ăn sống không rửa.
Mùi và ruồi. Chuồng không dọn gây mùi, ruồi nhiều; đệm lót tốt và dọn định kỳ.
Không kỳ vọng gà diệt sâu hoàn toàn. Gà giúp giảm, không thay được theo dõi sâu bệnh.
Chuồng ngủ và khu thả: thiết kế cho gọn
Chuồng cao ráo. Nền chuồng cao hơn mặt vườn, không đọng nước khi mưa.
Sào đậu ngủ. Gà ta thích ngủ trên sào, giảm tiếp xúc với phân.
Ổ đẻ riêng. Ổ đẻ trong chuồng giúp gà không đẻ rải rác trong vườn.
Cửa đóng mở dễ. Chiều gà về, tối đóng cửa; sáng mở sau khi sương tan.
Máng ăn trong chuồng. Cho ăn thêm trong chuồng buổi chiều để tập gà về.
Chuồng di động cho vườn phẳng. Chuồng nhỏ có bánh xe kéo theo ô thả, phân rải đều khắp vườn.
Lưới rào dễ tháo. Lưới nhựa và cọc tre dời được giúp đổi ô nhanh.
Cổng giữa các ô. Đổi ô chỉ cần mở cổng, không phải bắt gà.
Đệm lót chuồng. Trấu, mùn cưa lót chuồng hút ẩm, sau đó đem ủ làm phân cho vườn.
Bóng mát và chỗ tắm cát. Gà cần chỗ tắm đất khô để trị ve rận tự nhiên.
Khu cách ly gà mới, gà bệnh. Gà mua về hoặc gà có dấu hiệu bệnh phải tách riêng.
Câu hỏi thường gặp
Một vườn cây ăn trái thả được bao nhiêu gà?
Tuỳ diện tích, cỏ, mùa và cách luân phiên, không có con số chung. Dấu hiệu dễ theo dõi nhất là mặt đất: nếu cỏ không kịp mọc lại và đất trơ ra, mật độ đang quá cao.
Giống gà nào hợp thả vườn?
Gà ta và các giống gà địa phương thường chịu kiếm ăn, chống chịu tốt hơn gà công nghiệp. Gà lông màu lai cũng được nhiều nơi thả, nhưng cần thức ăn bổ sung nhiều hơn.
Gà thả vườn có cần tiêm phòng không?
Có, thậm chí càng cần hơn vì tiếp xúc nhiều với môi trường ngoài. Hỏi thú y địa phương về lịch tiêm phù hợp.
Vịt có thả dưới vườn cây được không?
Vịt ít bới đất hơn gà nhưng cần nước, làm đất lầy quanh chỗ uống. Vịt hợp vườn có mương, ao, và cũng cần luân phiên.
Phân gà thả vườn có làm cháy rễ không?
Phân rải mỏng khắp vườn thường không gây cháy rễ. Chỉ lưu ý khu gần chuồng ngủ, nơi phân dồn nhiều, không nên trồng cây non sát đó.