Ao, hồ trữ nước mưa giúp vườn đồi qua mùa khô khi được đặt ở chỗ đón được dòng nước chảy trên sườn, có mương dẫn và hố lắng cát trước khi nước vào ao, đáy được lót bạt hoặc nện chặt chống thấm, và có cách giảm bốc hơi. Dung tích phải tính theo lượng nước vườn cần trong những tuần khô nhất, cộng phần mất do thấm và bốc hơi.
Ở Tây Nguyên, nhiều vườn cà phê, sầu riêng đã đào hồ lót bạt sau những mùa khô giếng cạn. Có hồ cứu cả vườn, có hồ cạn trơ đáy giữa mùa khô vì tính thiếu, hoặc bạt thủng mà không ai biết.
Đặt ao ở đâu cho đón được nước?
Nước mưa trên đất dốc chảy theo đường dốc nhất, gom lại ở những chỗ trũng, khe rãnh. Một cái ao đặt đúng chỗ nước tự chảy vào sẽ đầy sau vài trận mưa lớn. Đặt sai chỗ, ao chỉ hứng được nước mưa rơi trực tiếp trên mặt ao, rất ít.
Cách tìm chỗ là đi vườn trong một trận mưa lớn, quan sát nước chảy hướng nào, tụ ở đâu. Chỗ có rãnh xói tự nhiên là dấu hiệu tốt. Đặt ao ở phía dưới vùng đón nước nhưng vẫn cao hơn phần lớn vườn cần tưới thì có thể tưới tự chảy hoặc bơm ít tốn năng lượng.
Không đặt ao ngay dưới chân dốc lớn đất trống, vì nước mang theo nhiều bùn đất sẽ lấp ao nhanh. Không đặt ao ở chỗ đất yếu, sát móng nhà, hoặc nơi nếu bờ ao vỡ nước sẽ tràn vào nhà hay đường đi.
Ao ở vùng đất bazan thấm nhanh thì gần như chắc chắn phải lót bạt. Ao ở vùng đất sét có thể nện đáy và giữ nước khá tốt mà không cần bạt, nhưng vẫn nên thử bằng một hố nhỏ trước.
Mương dẫn, hố lắng và tràn
Mương dẫn theo đường đồng mức. Mương chạy ngang dốc hơi nghiêng về phía ao gom nước từ sườn đồi.
Hố lắng trước ao. Một hố nhỏ trước cửa vào giữ lại cát bùn, nạo vét định kỳ.
Cỏ hai bên mương. Cỏ giữ bờ mương không sạt và lọc bớt đất.
Cửa vào có đá lót. Nước chảy mạnh vào ao sẽ khoét bờ và làm rách bạt.
Đường tràn. Ao đầy phải có lối tràn an toàn, không để nước tràn qua bờ làm vỡ bờ.
Tràn dẫn về vùng an toàn. Nước tràn dẫn ra rãnh, không đổ vào nhà hay đường.
Thu nước mái nhà. Máng xối mái nhà, mái kho dẫn vào ao là nguồn nước sạch hơn.
Tránh nước chuồng trại. Không để nước chảy qua chuồng trại vào ao.
Kiểm tra sau trận mưa đầu mùa. Xem mương có bị xói, hố lắng có đầy, tràn có hoạt động.
Hỏi hàng xóm về dòng chảy. Nắn dòng nước có thể ảnh hưởng vườn dưới dốc.
Hỏi quy định địa phương. Đào ao lớn có thể cần xin phép hoặc tuân theo quy định về đất và nước.
Lót bạt và chống thấm
Dọn sạch đá sắc, rễ cây. Vật nhọn dưới bạt sẽ đâm thủng khi nước đè lên.
Lót lớp đệm. Cát mịn, vải địa kỹ thuật hoặc bao tải cũ dưới bạt bảo vệ bạt.
Chọn bạt đủ dày. Bạt mỏng rẻ nhưng rách nhanh; hỏi đơn vị cung cấp loại dùng cho hồ chứa.
Hàn mối nối kỹ. Mối nối là chỗ rò hay gặp nhất.
Chôn mép bạt trong rãnh. Rãnh chôn mép bạt quanh bờ giữ bạt không trượt.
Vách ao không quá dốc. Vách dốc làm bạt căng, dễ rách, người ngã xuống khó leo lên.
Che bạt khỏi nắng phần trên mực nước. Phần bạt phơi nắng lão hoá nhanh hơn phần ngập.
Không để gia súc xuống ao. Móng trâu bò làm thủng bạt.
Kiểm tra mực nước. Mực nước tụt nhanh bất thường khi không dùng là dấu hiệu rò.
Nện đáy với đất sét. Nơi có đất sét, nện kỹ từng lớp có thể thay bạt.
Vá bạt đúng cách. Dùng miếng vá và keo hoặc hàn nhiệt theo loại bạt.
Nước bốc hơi và thấm đi bao nhiêu?
Mặt ao phơi nắng gió mùa khô bốc hơi mỗi ngày một lớp nước. Tính trên cả mùa khô dài, lượng mất đi có thể là một phần đáng kể dung tích ao, nhất là ao nông và rộng. Đây là lý do nhiều người thấy ao đầy lúc cuối mùa mưa mà giữa mùa khô đã cạn dù tưới ít.
Ao sâu, mặt nhỏ bốc hơi ít hơn ao nông, mặt rộng cùng dung tích. Nếu đất cho phép, đào sâu thay vì rộng. Hàng cây chắn gió quanh ao cũng giảm bốc hơi.
Một số vườn thả bèo, trồng sen ở một phần mặt ao để che nắng. Cách này giảm bốc hơi nhưng thực vật cũng thoát hơi nước, và bèo phủ kín có thể làm nước thiếu oxy nếu có nuôi cá. Có vườn làm mái lưới che nắng trên ao nhỏ.
Khi tính dung tích, cộng lượng nước vườn cần trong mùa khô với lượng bốc hơi và thấm ước tính, rồi thêm phần dự phòng cho năm khô hơn bình thường. Ai không tự tính được nên nhờ cán bộ thuỷ lợi hoặc khuyến nông địa phương.
An toàn và dùng ao đa mục đích
Rào quanh ao. Ao lót bạt vách trơn rất nguy hiểm; trẻ em, người lớn trượt xuống khó tự leo lên.
Biển nhắc bằng hình. Dặn trẻ em trong nhà và hàng xóm không lại gần.
Để dây, phao gần ao. Có sẵn dụng cụ cứu hộ đơn giản.
Làm bậc hoặc thang thoát. Một lối có bậc để người rơi xuống có chỗ leo lên.
Không bơi trong ao bạt. Kể cả người lớn biết bơi.
Nuôi cá có tính toán. Cá giúp diệt lăng quăng nhưng khi tưới cạn ao cá sẽ chết; chọn loài và mật độ phù hợp.
Diệt lăng quăng. Ao nước đứng dễ thành nơi sinh muỗi; thả cá hoặc giữ nước có chuyển động.
Tưới bằng máy bơm an toàn điện. Dây điện, ổ cắm gần nước phải chống giật.
Không dùng nước ao để uống. Nước ao chỉ để tưới, trừ khi được xử lý và xét nghiệm.
Nạo vét định kỳ. Bùn lắng làm giảm dung tích; bùn nạo lên bón vườn.
Ghi mực nước. Đánh dấu cọc đo mực nước, ghi hằng tuần mùa khô.
Câu hỏi thường gặp
Ao trữ nước bao nhiêu mét khối là đủ?
Tuỳ diện tích vườn, loại cây, độ dài mùa khô và cách tưới. Tính lượng nước tưới cần mỗi tuần nhân với số tuần khô, cộng bốc hơi và dự phòng; tưới nhỏ giọt giúp cùng một ao nuôi được nhiều cây hơn.
Không có tiền lót bạt thì làm sao?
Có thể nện đáy nếu đất có nhiều sét, hoặc làm nhiều hố trữ nhỏ quanh gốc cây để nước mưa thấm vào đất. Phủ gốc dày cũng giúp đất giữ nước mưa lâu hơn.
Ao có làm vườn bị úng không?
Ao đặt đúng chỗ và có đường tràn thì không. Nếu đặt ở chỗ cao hơn vườn mà bị rò, nước thấm có thể làm vùng đất dưới luôn ẩm.
Nuôi cá trong ao trữ nước tưới được không?
Được, cá giúp diệt lăng quăng và cho thêm thu nhập. Nhưng khi rút nước tưới mùa khô, mực nước giảm có thể làm cá chết, nên cần tính mật độ nhỏ.
Bạt lót ao dùng được bao lâu?
Tuỳ độ dày, chất lượng và việc phần bạt có phơi nắng hay không. Che phần bạt trên mặt nước và không để gia súc xuống ao giúp bạt bền hơn.